Vượt qua vận hạn
Vượt qua vận hạn
Thứ bẩy, 04/06/2011 - 10:26:25 AM

 

10. “KHAI MỞ XA LUÂN” - NỘI LỰC

     TIỀM ẨN CỦA MỖI CON NGƯỜI

 

Những người tâm linh, những cá nhân siêu việt đều có quan niệm vững chắc về vũ trụ, về con người và xã hội là ba cảnh giới: Thiên - Địa - Nhân. Từ đó mà xây dựng cho mình một thế giới quan và phương pháp luận khoa học, chọn một ngành nghề, công việc phù hợp với khả năng của chính mình.

Tiến sỹ: Triệu Tài Vinh, ủy viên trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Hà Giang (đứng giữa) ThS: Doanh nhân Lê Duy Hảo (bên) và những tri thức, lãnh đạo tỉnh Hà Giang qua các thời kì. Tại buổi gặp mặt đầu xuân Tân Mão ở Hà Nội. V/v mời đầu tư để Hà Giang phát triển.

 

Để làm được nhiều việc cần có sức khỏe, nhưng chỉ thế thôi chưa đủ, cái tối thượng là tri thức có thể đạt (trí huệ). Kể cả những người đã thành danh “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh”. Một nhà văn không có lý lẽ xác đáng về con người thì không thể viết hay được. Để không rơi vào vụn vặt, thành kiến, giới hạn, ta cần khai mở tiềm năng của con người. “Một cây làm chẳng nên non”. Vạn vật xung quanh ta đều đang thiền “đứng im” cây đứng im, nhà đứng im, núi đứng im. Chỉ có con người là đang chạy, chưa đủ con người còn chế ra ô tô, xe máy, máy bay trên trời, tàu ngầm dưới biển để phóng hết tốc lực. Thế giới tinh thần tràn đầy sức sống là một xã hội điềm đạm, sẽ dễ chịu hơn nhiều so với xã hội cuồng nhiệt.

“Kinh mà không niệm là vô kinh.

Tụng mà không niệm tâm linh rối bời”.

 Khi ngồi thiền ta bắt liên lạc được với cái thân tâm lí bằng ánh sáng. Như vậy thì thân vật lí thô trọng của ta không còn là một vấn đề đối với ta nữa, vì chính ta đã có thể siêu việt nó, khi đã hòa nhập với bản tính thanh tịnh của chính mình thì mọi sự hạn chế sẽ được vượt qua. Cũng như thần thông là; chân ngôn tương ứng với bản tôn (lời nói đi đôi với việc làm).

Khí Prana thấm vào khắp cơ thể, đem sự sống cho khắp các tế bào. Prana đến từ ánh sáng của mặt trời, sự rung động và pha trộn trong không khí khi ta hít thở. Prana thấm vào hệ thần kinh lan tỏa khắp thân thể, tích tụ trong hệ thần kinh tạo thành “nhân điện” là cần thiết nhất cho sự sống, khi luồng hỏa hầu thức giấc do ta luyện tập khai mở xa luân, thiền định, quán tưởng. “Hatha Yoga sẽ dọn đường cho Raja Yoga” từ trụ thân đến tinh thần, nó sẽ chạy dọc sống lưng lên đỉnh đầu, đón nhận ánh sáng chân lý. Để đạt kết quả cần phải miệt mài với một dòng truyền thừa không gián đoạn.

Thân ta với huyệt đạo chính chạy thẳng từ đỉnh đầu đến cuối cột sống, dọc theo đó có 7 huyệt, gọi là 7 xa luân hay “bánh xe năng lượng” mỗi xa luân có 1 nhiệm vụ khác nhau trong pháp trì mật tông. Xa luân 7 nằm ở đỉnh đầu “thóp”, xa luân 6 nằm giữa hai lông mày “ấn đường” Ấn Độ gọi con mắt thứ ba, xa luân 5 nằm ở yết hầu, xa luân 4 nằm giữa ức, xa luân 3 nằm trên rốn khoảng 3 thốn, xa luân 2 năm dưới rốn khoảng 2 thốn “2 cm”, xa luân 1 nằm giữa xương cụt và hậu môn còn gọi là “mệnh môn” màu đỏ.

Xa luân quan trọng nhất nằm ở tim là chỗ trú của cái tâm rất vi tế, kho tàng vô giá đối với tất cả hành giả mật tông. Ngay từ khi nhập thai chúng ta đã đem theo chính cái tâm vi tế này. Năng khiếu của một con người chỉ chiếm một vài phần trăm, nhưng không có nó khó có thể trở thành tài năng.

Một người biết rõ “năng khiếu” của mình và tiếp tục rèn luyện cái tính sẵn có thì người đó sẽ tiến bộ rất nhanh.

Ví như không thể lấy cái điện thoại thay cho lưỡi cày của nhà nông… điện thoại là khí cụ thuộc về cung liên hệ. Tâm linh cũng vậy cần phải có năng lượng, từ tâm đến linh là một cung… như ta thường dùng điện thoại. Nếu biết và sử dụng đúng số cần gọi ta có thể liên hệ với người khác ở các nước khắp trên hành tinh, nhưng nếu không biết số điện thoại thì không thể gọi được, mặc dù nó ngay cạnh mình. Nếu dùng nhiều không nạp sẽ hết pin, hết “nguồn” năng lượng. Thiền có thể ví như vậy cần phải nạp năng lượng hàng ngày.

Cần phải hiểu rõ khả năng của chính mình để phát huy. Cần phải biết mình là ai, thích hợp với những công việc gì? Chỉ khi nào con người “khai mở” 7 xa luân để phát triển toàn vẹn 7 đức tính, sẽ trở nên toàn thiện.

Nếu ta tương ứng được với Ba Mật Môn (ba cảnh giới) Thiên - Địa - Nhân thì việc tu hành không phải trải qua nhiều kiếp khổ hạnh, sẽ mau chóng chuyển được định nghiệp đạt thành tựu an lạc, đây chính là con đường ngắn nhất còn gọi là (cửa tắt).

Người có đạo đức mới tu thiền được và có tu thiền mới có đạo đức, nó hỗ trợ nhau như vậy. Tu thiền tâm an định hướng đến vô ngã, làm cho ta đạo đức tuyệt vời và mở ra trí tuệ sắc bén, tâm linh kỳ diệu, cuộc sống tự tại thanh thản.

Tâm linh kỳ diệu là: Nói đến thần thông

Trí tuệ sắc bén là: Nhìn thấy đạo lý.

Thần thông và trí huệ khác nhau nên ta phải chú ý để không bị nhầm lẫn giữa hai cái này. Người tu thiền là để đạt được hai cái đó, tu thiền có người phát thần thông trước rồi phát trí tuệ sau, có người phát trí tuệ trước rồi mới phát thần thông sau, có người vừa phát thần thông vừa phát trí tuệ luôn.

Tình người tâm Phật. Xin nói thêm về pháp tu trì Mật tông Phật giáo: Thần thông dễ làm cho con người ta hiếu kì và đi theo mình. Vì nó rất hấp dẫn. Chỉ xem phim Tây Du Ký thấy Tôn Ngộ Không thần thông biến hóa “đại náo thiên cung” đã hấp dẫn triệu triệu người xem. Nếu ngoài đời mà ai đó làm được thật chắc còn hấp dẫn hơn nhiều, nhưng nếu người ta dễ dàng theo mình thì mình dễ trở nên hư vì thần thông. Còn nữa, quyền hành trong tay những nhà lãnh đạo, có lúc đã hiển thị chẳng khác phép thần thông biến hóa, có thể có lợi, nhưng cũng rất dễ làm cho người ta hư. Lợi hay hại là do chính họ.

 Thần thông chỉ phù hợp với những sự tu trì, mật niệm, thấm nhuần giáo lí nhà Phật. Vì vậy ý nghĩa của chú Đà La Ni không phiên dịch vì năm (5) nguyên cớ sau:

1-   Vì Tâm niệm bí mật

2-   Vì Ý nghĩa bí mật

3-   Vì Danh tự bí mật

4-   Vì Âm thanh bí mật

5-   Vì Thiện sinh bí mật

Mật tông là một phương pháp giúp người trì trú để có được một năng lực siêu phàm đặc biệt. Tùy theo sức gia trì, hành trì của mỗi người mà thành. Mật tông tạo ra và là một phương tiện cho người tu hành, một năng lực chuyển nghiệp, tạo cho ta thần lực để nhận được gia trì của các vị thần, giúp cho ta thành tựu năng lực trên con đường giải thoát. Là phương tiện để giao hảo được với thế giới bên ngoài. Khai mở lục thông gồm: Thiên nhãn thông - Thiên nhĩ thông - Tha tâm thông – Túc mệnh thông – Như ý thông - Lậu tận thông.

- Thiên nhãn thông là thấy từ xa, thấy các cõi giới…  tự tại chiếu kiến hình sắc xa gần của hết thảy thế gian vạn vật, cũng như các hiện tượng khổ, vui của lục đạo chúng sinh.  

- Thiên nhĩ thông là lỗ tai mình nghe được… nghe được những gì? Tức có thể nghe thấy các loại âm thanh của thế gian, ngôn ngữ khổ, vui của của lục đạo chúng sinh

- Tha tâm thông là biết được tất cả quá khứ hiện tại và vị lai… tức biết được tâm niệm của lục đạo chúng sinh gồm: trời, người, atula, súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục.

- Túc mệnh thông tức là có thể tự tại biết được nhất sinh, nhị thế. Cho đến túc thế nhân duyên trăm ngàn vạn kiếp của bản thân và lục đạo chúng sinh.

- Thần túc thông, còn gọi là như ý thông là xuất hồn, xuất thần… tùy ý biến hiện, thân thể có thể phi hành trong hư không, bay qua núi vượt qua biển đều không có chướng ngại.

- Lậu tận thông “lậu” có nghĩa là phiền não, lậu tận là đoạn trừ phiền não không còn phải sinh tử luân hồi, đã đạt tới giải thoát, nó thuộc về thần thông trí tuệ, chỉ có ở các bậc Thánh, Phật, Bồ tát.

Nhưng theo các vị thượng sư: Mật tông chỉ là phương tiện, không thể thay thế sự tu hành chuyển nghiệp. Trì trú để nhờ cậy các chư thần hộ vệ cho chúng ta, tránh bớt ma chướng. Xám hối là để tiêu trừ bớt nghiệp chướng, để ta tu sửa mình một cách bình tĩnh, nhất tâm.

Muốn giải thoát, có được nghiệp lực điều cốt yếu là phải tu. Không nên đặt khả năng thần thông lên trên khi nghiệp lực còn hạn chế là nghịch lí. Dù có bay lên trời, lặn xuống biển, hoặc chẻ núi chui vào trong hang động cũng không tránh được ác nghiệp mình đã gieo, thần thông không hóa giải được nghiệp lực. Tề Thiên Đại Thánh với 72 phép thần thông biến hóa, cân đẩu vân có thể bay vạn dặm nhưng không qua khỏi bàn tay Phật, cuộc đấu chiến thắng Phật của Tôn Ngộ Không là thắng mình… thành Phật.

Nhân duyên, phước báu, nghiệp lực cứu mình là phải trước hết có niềm tin để kích phát đạo lành, làm việc thiện, có niềm tin làm gì mới hết mình. Đừng mơ hồ trong tu hành để quyết định cuộc đời. Câu chuyện có người chạy trên sông không phải là không có, nhưng để chạy được trên mặt nước phải công luyện khoảng 20 năm. Để bay được trên không phải mất khoảng 40 năm. Còn nếu chèo đò qua sông chỉ mất vài đồng. Vậy ta chọn phương pháp nào tùy duyên. Nhưng nghiệp lực và đường về bến giác thì không thể mua được bằng tiền, sự tu trì lành mạnh sẽ giúp ta hiểu và nắm được qui luật, chuyển được định nghiệp, nâng cao khả năng là tiềm năng vô tận của con người.

Thiền khiến cho người tu tự tại. Tự tại là người này không muốn điều gì và cũng chẳng sợ điều gì. Thần thông không có chỗ cho sợ hãi (vô sở úy). Ai cũng vậy sinh ra chỉ có một mình, chết đi cũng chỉ có một mình, không tự tại là bất an. Ham muốn vô độ là thể hiện tâm bất an.

Con người thường chỉ thấy phần nổi của mình, thấy cái vỏ bên ngoài như tiền bạc, địa vị, quyền hành. Không thấy được khả năng tiềm ẩn bên trong của chính mình. Có người tự xưng tự đắc nhưng trong đầu thì lại rỗng tuếch.

“Tôi đi cuối đất cùng trời

Tìm mua thuốc ngộ cho người đang mê

Tôi đi thủy tận sơn khê

Chữa cho người ngộ tôi mê mất rồi”

Tu thiền tự uy đức sẽ có mà không cần phải cố gắng nhiều. Khi tâm chưa an định, thương ai, làm gì ta phải quán chiếu vất vả. Khi ta hay trách cứ người khác là ta chưa có từ bi. Cách làm thử: Tập hợp một ngày xem ta khen chê bao nhiêu, khi ta có tâm từ bi thì nhìn người ta thấy ưu điểm trước, khuyết điểm sau, có phải trách mắng ai đó thì phải hướng đến mục đích tốt lành.

Thiền định giúp ta được thân tướng uy nghi, từ bi, tự tại đi đứng đàng hoàng nói năng không bộp chộp.    

Thiền là dòng chảy bất tận, tự nó chảy vào nó, để trở thành nó. Thiền tự cân bằng với bên ngoài, tiểu vũ trụ tự hòa nhập với đại vũ trụ, tỏa ra bên ngoài đó là Từ - Bi - Hỉ - Xả. Đạo là của cải lớn nhất của con người và phải được chia sẻ. Đạo Phật đã có tám vạn tư quyển kinh. Lão Tử nói: Sáng ngộ đạo chiều chết được rồi.

Sự thật nói ra có thể cứu được người khác. Nhưng mình hèn nhát không dám nói, không dám bảo vệ cái đúng, không dám đấu tranh với cái sai từ những kiếp trước, mới gặp quả báo, thành người mù hoặc người câm, cho nên khoa học rất hiện đại nhưng cũng không chữa được bệnh cho người mù và câm bẩm sinh. Bởi khoa học chỉ chữa bệnh chưa chữa được mệnh, mà bệnh là do người bệnh sinh ra.

Nghe nói: Thần chú “Mantra” là lời cầu đảo rất có ý nghĩa, bí hiểm. Khi đọc và trì chú có tác dụng chuyển đổi, thể hiện sự việc lành dữ trong tâm thức con người. Đây cũng là phương tiện đi đến giao hảo với các sức mạnh vô hình rất hiệu nghiệm khi chúng ta thực hành đúng.

Khoa học cũng đã chứng minh rằng: Trong vật lý lượng tử đã thừa nhận ý thức con người đã tác động được đến thiên nhiên, đến các hạt proton. Các hiện tượng như gió, mưa, nắng đều là cấu trúc của những dải hạt proton. Trong truyện Tam Quốc có nói đến Gia Cát Lượng lập đàn đổi gió trận chiến ở Xích Bích và đã đánh bại đội quân rất mạnh của Tào Tháo.

Dịp Đại lễ nghìn năm Thăng Long, đa số cho rằng thời tiết đẹp, trời đất phù hộ… Nhưng ngoài biển khơi đã hình thành một cơn siêu bão, nếu nó đi đúng hướng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ngày chính lễ mùng 10 tháng 10 năm Canh Dần. Lạ kỳ là bão đã quay đầu, rồi tan ngoài biển khơi. Vòng xoáy của bão kỳ vĩ như một thiên hà, có lúc lại uốn lượn như một con rồng khổng lồ. Điều đó cũng đáng để chúng ta suy ngẫm, khi thế giới xung quanh chúng ta còn bao điều kì bí…

Thiền định có thể tăng cường cho chúng ta những công hiệu cảm ứng của trí tuệ, rồi từng bước đi từ sơ ngộ “sơ khai” đến đốn ngộ, có thể đạt tới đại ngộ… đắc khí sẽ xuất hiện công năng. Là sự thể nghiệm của người tu học khí công cao cấp. Trong tu tập và tất cả các hoạt động của con người cần đặc biệt chú ý đến hơi thở. Đức Bồ Tát khuyên chúng ta: Bình tâm, tịnh khí giữ hơi thở đều đặn, khiến thân tâm luôn tinh tấn vào cảnh giới “vô tư vô lự”. Là pháp môn quan trọng trong việc tu đạo. Nếu tâm không hòa thì khí huyết thô. Khí huyết thô thì thần bất ổn, tinh thần không ổn định thì vọng niệm khởi sinh làm sao có thể ngộ được bản tính của Như Lai. Từ đó bị sắc trần lôi kéo, tham dục phát sinh, tạp niệm vọng khởi.... dẫn đến chướng ngại cho việc tu hành. Cho nên ta phải dứt trừ tỷ căn... vì nó là nguồn gốc dục vọng của hương trần. Nếu đạt sẽ “ngộ triệt muôn trượng”, đoạn cảnh mê mờ. Nhưng phải công phu hành trì để đạt đến quả vị Phật đạo.

Một ngày có 24 giờ, mỗi giờ có 60 phút, tổng cộng có 1440 phút/ngày. Mỗi phút nên thở 15 lần là vừa “21.600 lần/ngày” sẽ phù hợp với luật thiên nhiên. Nếu thở nhanh phanh gấp tức là cuộc đời sẽ ngắn lại, tuổi thọ giảm theo. Nhỏ như con kiến thợ, nhưng trái tim của nó đập 1.000 lần/phút, nếu không gặp trắc trở gì đó, kiến thợ sống được khoảng 60 ngày. Rùa có nhịp đập tim 12 lần/phút, tuổi thọ là 60 năm hoặc lâu hơn. Nếu kéo dài nhịp đập tim của kiến thợ nó sẽ sống lâu như rùa, sinh vật càng nhỏ tuổi đời càng ngắn.  

Nếu ngộ đạo thì Thiền sư sẽ nhìn được cái ngoài nhìn, nghe được cái ngoài nghe, nghĩ được cái ngoài nghĩ. Nhìn được cái ngoài nhìn là lúc mắt nhìn được thiên lí nhãn thông, tai nghe được thuận nhĩ phong từ đó sống ung dung tự tại.

Theo Y, Nho, Lý, Số thì sự sống của con người bắt đầu từ Đan điền tiến dần lên đỉnh đầu, và rồi ngưng tụ lại ở đại huyệt Bách hội, nó nằm giữa không gian và thời gian, khi chết linh hồn sẽ thoát ra ngoài bay vào vũ trụ… bay vào đâu là do nghiệp lực lúc sống.

Cho nên các nhà sư khi họ thiền định đạt tới cảnh giới cao thì họ có thể định đoạt, chủ động sự sống chết, vận khí đẩy linh hồn ra ngoài khỏi huyệt đạo theo tâm ý. Trên thế giới ngoài việc xác ướp “trong quan ngoài quách” mới chỉ có 4 dòng táng đó là: Địa táng, Thủy táng, Hỏa táng, Điểu táng. Việt Nam đã có thiền táng. Hai nhà sư là Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường đã thiền táng tại chùa Đậu từ thế kỉ thứ 17. Tuy trải qua bao thăng trầm lịch sử nhưng vẫn tồn tại đến ngày hôm nay, là một cái nhìn xuyên suốt cho những ai cần chiêm nghiệm, khai thị tâm linh.

Mỗi con người dù giàu ghèo, sang hèn quyền hành đến đâu… đều trải qua ba giai đoạn: Tiền ấm – Trung ấm – Hậu ấm. Nếu mỗi xã hoặc mỗi khu vực có ban trợ niệm giúp người bệnh lúc lâm trung, là đảm nhận trách nhiệm của Phật tổ Như Lai để cứu độ chúng sinh khỏi sinh tử luân hồi, giúp người bệnh thành tựu một vị Phật. Uy đức thật vô cùng không thể đếm hết được!    

Trên thực tế, người triết lý thì nhiều, người ngộ đạo thì ít. Triết lý và duy ý trí rất gần nhau vì tự nó sinh ra vọng tưởng, tức là chỉ có ở bên ngoài vỏ não không đi sâu vào trong não. Đức Phật là người vượt ra ngoài vọng tưởng đi vào cốt lõi của trí tuệ, vào chính đẳng, chính giác và đạt viên mãn. Các vị A La hán “tự độ” thoát khỏi sinh tử luân hồi. Bồ tát “độ mình, độ người”. Phật “độ mình, độ người” đã xong thành chính giác viên mãn, tức Phật.

Thủ phạm chính là ta. Đức Phật có nói: Nếu tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta. Bồ tát đạo thường được biểu hiện qua Lục độ, tức là có sáu hạnh, còn được gọi là Lục Ba La Mật, “Pàramità” gồm có: Bố thí “Dàni”, Trì giới “Sila”, Nhẫn nhục “Ksànti”, Tinh tấn “vìrya”, Thiền định “Dhỳana”, Trí huệ “Prajna”. Pàramità nếu dịch âm là Ba La Mật Đa, nếu dịch chữ là Đáo Bỉ Ngạn, tức đến được bờ bên kia. Lục Ba La Mật là sáu phương tiện, ta thường gọi là “Tha lực” có khả năng “độ” tức là đưa Bồ tát xang đến bờ bên kia, Đại giác, tức Phật.

Trong sáu hạnh thì Bố thí là rễ nhất với các Cư sĩ tại gia. Nếu ta gọi Bố là khắp, thí là cho. Vậy bố thí có thể gọi là cho khắp “tùy duyên” và tâm của mỗi người mà cho khắp... hay cho khắp cái ta có. Bố thí có ba loại: Tài thí “bố thí tiền”, Pháp thí “bố thí Pháp, Vô úy thí “bố thí không sợ hãi”. Tuy rễ nhất trong sáu hạnh nhưng lại rất cần biết và làm được:

a-   Người bố thí phải có tâm trong sạch.

b-   Vật phẩm bố thí phải chân chính.

c-    Người nhận bố thí phải được kính trọng tối đa.

Vọng tưởng nhiều chỉ đạt cái tư duy ngoài vỏ não nên khi gặp tình huống khó là hay rối trí. Đùng đùng đẩy sự sống lên trên bách hội, nên thường bị đoản thọ, biến chứng não bộ, xuất huyết não, vì sống cưỡng duyên, không thuận theo qui luật. Xin nêu một kinh nghiệm quí báu giúp quí vị nếu thấy ai đó bị bệnh như trên: xoa vào hai tai người bệnh rồi nhanh chóng lấy kim hoặc gai chích vào phía dưới cùng của hai tai, hoặc các đầu ngón tay cho chảy máu ra sẽ cứu được người bệnh qua cơn hiểm nghèo, tránh được bệnh xuất huyết não, đột quị. Chú ý; không làm được với người mắc bệnh tiểu đường.

Ngộ thiền sẽ có cuộc sống thảnh thơi, tự quân bình một cách tự nhiên, tự tại. Tâm sẽ an lạc hưởng phúc lộc thọ… không còn quan tâm đến tử vi, tướng số. Không kiêng kị hướng nhà hướng cửa, không sống cưỡng duyên, không phiền não. Mọi sự hay dở trên đời đều chấp nhận như một định mệnh, nhân duyên trong cõi dường như... sống ung dung tự tại, tránh được mê tín.

Kẻ biết nhiều là người biết nhiều điều mình chưa biết! Nhà khoa học lỗi lạc Niutơn nói: cái tôi biết chỉ là giọt nước, cái chưa biết là biển cả mênh mông.

Không nên thần thánh hóa con người, trí tuệ con người cũng chỉ như cú nhảy Cân đẩu vân của Tôn Ngộ Không đến tận mười vạn dặm, nhưng vẫn nằm gọn trong bàn tay Phật, nằm trong qui luật của tạo hóa.

Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Hoàng Dân Mạc, lãnh đạo Trung ương và các Doanh nhân gặp gỡ đầu năm Canh Dần về quê Viếng Tổ Vua Hùng và đầu tư về đất Tổ

 

Các bậc hiền triết đều cho rằng: Lòng tin thường được quyết định bởi phẩm hạnh cá nhân của chính con người đó, nó sẽ biến con người đó thành trung tâm những năng lực, chúng vượt xa và hơn hẳn bản thân chính người đó, làm cho người đó có những năng lực phi thường như “Siêu nhân”. Nhưng một khi bị mất đi môi trường tự nhiên của mình, trong một trạng huống hư vô về tinh thần thì không thể có những năng lực siêu phàm nào nữa. Tất cả năng lực trong vũ trụ đều có trong đất và khí, trong lửa và nước… trong mọi thành tố làm nên đời sống con người.

Lục đại nguyên tố cấu thành vũ trụ vạn tượng mà con người là đỉnh cao hướng đạo. Gồm: thủy, hỏa, địa, phong “đất, nước, lửa, gió”, không “không khí” thức “ý thức”. Chúng tôi đang sản xuất gốm sứ Nason "tâm linh" ở Phú Thọ nhằm an bố "ấn pháp" để an lạc đến được với mọi người, mọi nhà. Với mong muốn duy nhất góp phần nhỏ bé chuyển hóa cách nghĩ, cách nhìn để giải thoát khỏi khổ đau. Giữ được Gia Bảo là đạo lý truyền thống của dân tộc có từ ngàn xa, do tổ tiên để lại con cháu kế thừa, hấp thụ tinh hoa lâu đời do các tôn giáo bồi đắp và xây dựng. Cho nên gia đình Việt Nam đều có truyền thống thiết lập Hương án trong nhà.

Phép thuật chẳng qua chỉ là sự thu ngắn của nhiều năng lực trong tự nhiên, là sự tác động trực tiếp của tâm lên tâm, nó không thông qua giác quan, lòng tin tự sinh ra tâm nối tâm, nó giống như điện phải cần dây dẫn điện, năng lực tinh thần cần phải có lòng tin tự nguyện phát ra từ tâm mới phát huy được, phải biết kết hợp với lý luận khí công có nghĩa là vừa thậm nhận hồ đồ vừa có độ cao tỉnh giác cao… khi ta vận hành bánh xe pháp.

Mật giáo luôn hàm chứa những phương tiện giải thoát của Đức Phật Đà. Tất thảy các Đàn giới (Mandala); Ấn quyết (Mudra); Thần trú (Mantra); Minh trú (Vidya); Tổng trì (Dhàranì) đều biểu tượng cho giải thoát, bản nguyện từ bi phổ độ của các vị hiền thánh trong Phật đạo. Điều tối thượng là người tu Mật giáo cần thấu hiểu cả hai Pháp gồm HiểnMật.

(Còn nữa)

Gửi email bài viết In bài viết

[Trở về ]

TIN ĐÃ ĐƯA:
  • Vượt qua vận hạn
  • Vượt qua vận hạn
  • Vượt qua vận hạn
  • Vượt qua vận hạn
  • Vượt qua vận hạn
  • Vượt qua vận hạn
  • Vượt qua vận hạn
  • Vượt qua vận hạn
  • Vượt qua vận hạn

  •  
     
         
     

    Những bông hoa bất tử

    Nhạc Cung Đình Trung Hoa

    Kỹ nghệ xoay mình

     
    Photo gallery
     
     
    Thương hiệu
     
     
     

     
    Tìm bản tin
     

    Tòa nhà 274 Phường Trần Phú - thị xã Hà Giang - Tỉnh Hà Giang - Việt Nam

    GPĐKKD số 041810
    Website đang xây dựng và thử nghiệm

    Tel: 02193866359| Pax: 02193866359 | Website: www.songlo.com  | E-mail: infosonglo@gmail.com


    Số người online: | Số người truy cập: